 |
cửa Chương Đức được trùng tu lại
|
Cửa Chương Đức là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của thời Khải Định (1916-1925) với đặc trưng nổi bật là một chiếc tam quan xây gạch trang trí bằng kỹ thuật ghép sành sứ trên nền vôi vữa.
Trong quá trình nghiên cứu trùng tu chiếc cửa này, khó khăn lớn nhất nhưng cũng đem lại nhiều hứng thú nhất cho những người làm công tác trùng tu chính là việc phục hồi hàng trăm ô hộc và hoạ tiết trang trí bằng kỹ thuật ghép sành sứ trên toàn bộ thân cửa. Để tiến hành được công việc trên, ngoài những việc chuyên môn thuần tuý của khoa học trùng tu di tích, chúng tôi còn buộc phải nghiên cứu lại toàn bộ diễn tiến của nghệ thuật ghép sành sứ, thuỷ tinh dưới thời Nguyễn. Và cũng chính từ công việc này chúng tôi đã mạnh dạn cho rằng, nghệ thuật ghép sành sứ ở cửa Chương Đức đã đạt đến một trình độ rất cao, thực sự là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của nghệ thuật ghép sành sứ dưới thời Nguyễn nói chung và thời Khải Định nói riêng.
I.NGHỆ THUẬT KHẢM SÀNH SỨ NHÌN TỪ CỬA CHƯƠNG ĐỨC
I.1.- Lịch sử xây dựng cửa Chương Đức và việc trùng tu công trình
Chương Đức Môn là cửa thành phía tây của Hoàng Thành Huế, một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của quẩn thể di tích Cố đô Huế. Theo các tài liệu của triều Nguyễn, cửa Chương Đức được xây dựng vào năm 1804 cùng với việc xây dựng Hoàng Thành, tuy nhiên lúc đó nó mới có cách thức đơn giản và chưa có vọng lâu. Đến năm 1811, cửa Chương Đức được cải tạo và xây thêm phần vọng lâu bên trên, cùng đợt với 2 cửa Hiển Nhơn, Hoà Bình. Từ đây trở đi, cửa Hiển Nhơn mang kiểu thức của một tam quan khung gỗ tiêu biểu thời Nguyễn, nghĩa là cửa gồm 3 gian, mỗi gian mở 1 cửa, bên trên có vọng lâu, phần mái được cắt thành nhiều tầng.
Năm 1826, cửa Chương Đức được tu bổ và đến năm 1830 lại được tu bổ một lần nữa nhân dịp chuẩn bị lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Minh Mạng.
Lần cải tạo quan trọng nhất của cửa Chương Đức là vào năm 1921 thời vua Khải Định. Trong lần này, người ta đã hạ giải hoàn toàn kết cấu gỗ của tam quan cũ và xây dựng lại trên nền cũ với quy mô lớn hơn một tam quan đồ sộ 2 tầng hoàn toàn bằng gạch, vôi vữa với hình thức trang trí đắp gắn mảnh sành sứ rất tiêu biểu của phong cách thời Khải Định. Hai năm sau đó, cửa Hiển Nhơn cũng được cải tạo lại theo nguyên mẫu của cửa Chương Đức và hình thức kiến trúc của cả hai cửa này còn tồn tại cho đến ngày nay, chỉ khác một điều là cửa Hiển Nhơn đã được tu bổ lại một lần vào năm 1977 còn cửa Chương Đức thì chưa hề được tu bổ vài chục năm trở lại đây.
Trước khi được trùng tu, cửa Chương Đức đã ở vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Cửa được xây bằng gạch vồ cuốn vòm có chiều cao 13,5m , kích thước đường bao là 15,1 x 5,6 m. Mặt nền tầng 1 và tầng 2 đều láng vữa đã nứt vỡ nhiều. Kết cấu đã xuất hiện một số vết nứt nhỏ trên vòm cổng, đặc biệt có vết nứt xuất hiện trên cùng vị trí mặt đứng ở cả hai mặt chính. Một số chi tiết kiến trúc như diềm mái, trụ lan can bị sụt, long vỡ gạch khá nặng nhưng có tính cục bộ nên nguyên nhân có thể do bom đạn trong thời kỳ chiến tranh. Lớp áo vữa đã bị bong vỡ lộ kết cấu gạch bên trong và rêu mốc nặng nề cả mặt trong và ngoài. Vòm trần tầng 1 bị thấm dột khá nặng do hệ thoát nước trên tầng 2 qua thời gian đã mất tác dụng, nước mưa ứ đọng lâu ngày đã gây thấm dột xuống bên dưới. Con giống, và các chi tiết trang trí đắp nổi, gắn sành sứ đã bong vỡ nhiều, có nhiều chi tiết đã mất nét. Mái lợp ngói ống hoàng lưu ly đã xuống cấp nghiêm trọng đặc biệt là lớp mái giữa tầng 1 và tầng 2, có khu vực ngói và vữa lót đã mất hoàn toàn, chỉ còn trơ lại kết cấu gạch vồ. Hầu hết diện tích mái và bề mặt áo vữa bị rêu mốc, cỏ dại xâm thực nặng nề. Các cánh cửa được làm bằng gỗ, goong bản lề thép bên dưới có bánh xe, đã hư hỏng khá nặng chủ yếu ở các chi tiết kim loại và gỗ ván cửa. Toàn bộ các cánh đều đã được sơn lại bằng sơn công nghiệp.
Sau một quá trình nghiên cứu và chuẩn bị khá công phu, ngày 28/08/2003, dự án trùng tu cửa Chương Đức đã được khởi công. Các công việc chính mà dự án thực hiện gồm:
+ Tiến hành gia cường, xử lý chống nứt khối xây bằng cá BTCT và bơm vữa neo GM.
+Trám vá, phục hồi lại các khu vực bị long vỡ khối xây theo nguyên gốc.
+ Xử lý chống thấm bằng vải thuỷ tinh quét sơn bitum cao su cho nền tầng 2. Thay thế nền láng vữa bằng nền lát gạch Bát Tràng cho tầng 1 và tầng 2. Riêng tầng 1, mép nền có bó vỉa đá Thanh 620x320x80.
+Phục hồi lại các cánh cửa gỗ, thay thế các chi tiết hư hỏng.
+Phục hồi toàn bộ mái lợp ngói ống hoàng lưu ly, câu đầu trích thuỷ đắp vữa.
+Phục hồi bề mặt vữa trát bị rêu mốc, bong hỏng bằng vữa truyền thống. Toàn bộ bề mặt công trình được quét hoá chất chống rêu mốc.
+Phục hồi lại toàn bộ các trang trí ốp sành sứ trên mặt tường, ô hộc...
+Phục hồi bờ quyết, bờ nóc, con giống có gắn sành sứ theo mẫu hiện trạng.
+Phục hồi lại màu sắc nguyên gốc cho công trình.
+Phục hồi phần hạ tầng, bao gồm đường đi, thảm cỏ ở trong và ngoài cửa. Bên cạnh đó, để đáp ứng các nhu cầu mới, phần chiếu sáng cho cổng, tuyến đèn đường từ trong cổng ra phía đường Lê Huân cũng được lắp dựng.
Trong suốt quá trình thi công, một lực lượng lớn cán bộ kỹ thuật và thợ lành nghề của Trung tâm Triển khai và Tư vấn Xây dựng Miền Trung thuộc Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng của Bộ Xây dựng đã được huy động cho công trường này. Tất cả các phương án phục hồi và giải pháp thi công đều được nghiên cứu công phu trước khi thực hiện. Các chất liệu và công nghệ truyền thống đều được ưu tiên áp dụng. Trong quá trình thực hiện dự án, 148 ô hộc, pa nô và hơn 50 dải, diềm, hoạ tiết trang trí với các đề tài phong phú, chủ yếu ghép bằng mảnh sành sứ cổ và thuỷ tinh màu đã được xử lí phục hồi đúng theo chất liệu gốc. Một số ô hộc chưa xác định rõ đề tài do bị mất hoàn toàn hoặc chỉ còn quá mờ nhạt thì vẫn được bảo lưu để nghiên cứu và đối chứng. Ngày 07/1/2004, công trình trùng tu phục hồi cửa Chương Đức đã được Ban Quản lý Dự án Trung tâm BTDTCĐ Huế cùng các ban ngành liên quan tổ chức nghiệm thu và được đánh giá cao.
I.2. Trang trí ghép sành sứ và thuỷ tinh màu tại cửa Chương Đức
Một nhà nghiên cứu mỹ thuật lão thành của Việt Nam đã từng nhận xét:
“Gắn mảnh bát đĩa lên tường để trang trí thì nhiều nơi có, nhưng chỉ ở Huế mới nâng lên trình độ nghệ thuật để hình trang trí trở thành những bức tranh đặc sắc” (3).
Điều này có thể thấy rõ ngay trên cửa Chương Đức.
Có thể xem chiếc cửa này là một bộ sưu tập lớn về các đồ án trang trí bằng sành sứ và thuỷ tinh màu của thời Nguyễn. Như trên chúng tôi đã nói, toàn bộ trên cửa Chương Đức có đến 148 ô hộc, pa nô và hơn 50 dải, diềm, hoạ tiết trang trí với các đề tài hết sức phong phú. Các đồ án trang trí ấy được trải rộng từ chân lên đến đỉnh cao nhất của nóc mái cửa, được phân bố không chỉ trên 2 mặt chính Đông-Tây mà cả trên hai mặt hông Bắc-Nam của cửa. Nếu so sánh thì cả về quy mô, diện tích trang trí lẫn số lượng đồ án trang trí cửa Chương Đức đã vượt xa so với các công trình đồng dạng trước đó như cửa cung An Định, cửa Trường An (cung Trường Sanh).
Qúa trình khảo sát nghiên cứu trước trùng tu cho thấy, toàn bộ hệ thống họa tiết được đắp nổi khảm sành sứ, chủ yếu tập trung trên bề mặt tường cổng, độ lồi lõm của khối không lớn so với cốt nền của tường đến các bộ phận nổi của họa tiết từ 3cm – 5cm. Sự khác biệt lớn ở đây chủ yếu tập trung về bố cục và các mảng màu trang trí. Đối với các mảng trang trí phụ hoặc các họa tiết trang trí có mảng không lớn chỉ nhằm tô điểm cho các bộ phận trang trí chính của cổng như: Con giống bờ quyết, ô hộc tường, ô hộc trụ cổng, hay các mảng trang trí tường có diện tích lớn... Hiện trạng các chi tiết trang trí còn lại cho thấy nghệ nhân đã gắn kết giữa cấu trúc với đề tài và hình thức thể hiện tập trung chủ yếu ở mặt chính của công trình. Đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố chính và phụ, giữa thô và tinh trong một thể thống nhất hài hòa.
Hệ thống gờ chỉ trang trí của công trình được khảm chìm trong cốt nền tường, với đề tài hồi văn, hoa dây... được cách điệu khái quát nghệ thuật cao, mang tính kiểu mẫu được thể hiện theo quy luật lặp lại – tiếp diễn.
Về đề tài thể hiện chủ yếu dựa trên các mô típ trang trí truyền thống Huế: Tứ thời; Tứ quý, biểu tượng bằng Mai – Lan – Cúc – Trúc gắn với các con vật: Chim Trĩ, Trì, Lộc, Mã, Hổ, Kê, Tượng...; đồ án kiểu Cổ đồ chiết chi và các kiểu thức biến thể... hoặc các điển tích cổ.
Toàn bộ hoa văn họa tiết được ghép sành sứ và tô vẽ trang trí bằng màu có dạng bột kết dính bằng keo động vật (xác định theo theo kinh nghiệm của Nghệ nhân). ở một số vết tích màu sắc hiện trạng có thể nhận định rằng: Chất liệu, các tông màu và nghệ thuật phối màu điều theo cách thức nề ngõa trang trí truyền thống.
II.VÀI SUY NGHĨ
II.1-Về lịch sử trang trí sành sứ thời Nguyễn
Các nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam cho rằng, nghệ thuật ghép sành sứ trong trang trí kiến trúc ở nước ta đã xuất hiện từ thời Lý; đến thời Hậu Lê thì phát triển khá đa dạng (1). ở Đàng Trong, cùng với việc các chúa Nguyễn xây dựng các đô thị, đặc biệt là Kinh Đô Phú Xuân, kỹ thuật ghép sành sứ đã được ứng dụng rất phổ biến và đã đạt tới trình độ rất cao. Năm 1776, khi viết sách Phủ Biên Tạp lục mô tả tình hình xứ Thuận Hoá, nhà bác học Lê Quý Đôn đã tỏ ra hết sức ngưỡng mộ những công trình xây dựng tráng lệ của chúa Nguyễn tại Đô thành Phú Xuân, trong đó có những công trình sử dụng trang trí bằng ghép sành sứ: “Tường trong tường ngoài đều xây dày mấy thước, lấy vôi mật và sành sứ đắp thành hình rồng, phượng, lân, hổ, cỏ hoa... “ (2).
Đến đầu thời Nguyễn, cùng với việc xây dựng hàng loạt các công trình kiến trúc quy mô lớn tại Kinh đô Huế, nghệ thuật trang trí bằng sành sứ lại càng có điều kiện áp dụng và nâng cao về trình độ. Tuy nhiên, khi nghiên cứu quá trình phát triển của loại hình trang trí độc đáo này, chúng tôi nhận thấy, ngay trong thời Nguyễn, quá trình trên cũng có những bước thăng trầm:
-Đầu thời Nguyễn, tương ứng với thời Gia Long (1802-1820), lối trang trí bằng sành sứ được đưa vào áp dụng khá ồ ạt; hầu như các công trình xây dựng bằng vật liệu gạch ngói, đá có nhu cầu trang trí thì sành sứ đều được đưa vào. Lúc này, trên cổng thành, cửa cung điện, đền miếu, trên bình phong, bờ nóc cung điện, miếu vũ... chỗ nào cũng có trang trí bằng sành sứ kết hợp với nghệ thuật vẽ màu. Tuy nhiên, cũng do sự xâm nhập ồ ạt này mà tính dân gian trong các đề tài trang trí vẫn còn thể hiện rất rõ; số lượng các đề tài và cách thể hiện khá phong phú nhưng kỹ thuật thể hiện vẫn còn thô mộc, độ tinh xảo chưa cao. Dấu tích về thời kỳ này đến nay không còn nhiều nhưng cũng đủ để chúng ta nhận biết và đánh giá. Đó là hệ thống cửa ở Triệu Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, hệ thống lăng các chúa Nguyễn và lăng Gia Long...
-Từ thời Minh Mạng (1820-1841) đến hết thời Tự Đức (1848-1883), do tính quy chuẩn của kiến trúc và trang trí cung đình đã trở nên chặt chẽ, hoàn thiện nên các đề tài trang trí (bao gồm cả trang trí bằng sành sứ) đã có tính chọn lọc cao; “đất dụng võ” của trang trí sành sứ cũng bị thu hẹp đi nhiều, do sự xuất hiện và “cạnh tranh” của một số loại hình trang trí khác (đặc biệt là nghệ thuật trang trí bằng pháp lam); trang trí sành sứ hầu như chỉ còn trên mái các cung điện, trên một số cổng và bình phong. Tuy nhiên, trình độ kỹ thuật và mỹ thuật của nghề ghép sành sứ đã đạt đến trình độ cao hơn.
-Bắt đầu từ thời Đồng Khánh (1885-1889) trở về sau, cùng với việc đánh mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp và sự bất lực trong việc quản lý đất nước về kinh tế xã hội, các quy chuẩn cung đình của triều Nguyễn trong kiến trúc, trang trí cũng ngày càng bị lung lay. Đây là cơ hội để các ngành nghệ thuật dân gian quay trở lại thâm nhập mạnh mẽ vào chốn cung đình. Đây cũng chính là thời kỳ nghề khảm sành sứ có sự hồi sinh mạnh mẽ và hơn thế, còn được nâng lên ở một tầm cao mới-thực sự trở thành một nghệ thuật của trang trí kiến trúc. Nghệ thuật khảm sành sứ đặc biệt phát triển dưới thời Khải Định (1916-1925) và đầu thời Bảo Đại (1926-1945), được đánh dấu bằng hàng loạt công trình nổi tiếng như cung An Định (1917-1919), lầu Kiến Trung (19), cửa Trường An (1920), cửa Chương Đức (1921), cửa Hiển Nhơn (1923), lăng Khải Định (1920-1931). Sau đó, cùng với sự sụp đổ của vương triều Nguyễn, nghệ thuật khảm sành sứ đã bị tản mác ra chốn dân gian và được nuôi dưỡng bảo lưu phần nào cho đến ngày nay.
Như vậy, nhìn vào diễn tiến lịch sử của nghệ thuật trang trí sành sứ, chúng ta có thể thấy, đây là một nghề có từ lâu đời, có môi trường ứng dụng rộng rãi cả trong chốn dân gian và cung đình. Nhưng chỉ đến những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, nó mới đạt đến đỉnh cao tại các công trình kiến trúc cung đình Nguyễn mà cửa Chương Đức là một trong những thí dụ khá điển hình.
Chú thích: 1-Phan Thanh Bình, Nghệ thuật khảm sành sứ trang trí kiến trúc cung đình Huế. Tạp chí Thông tin Khoa học & Công nghệ, số 2(6) 1993.
2-Lê Quý Đôn toàn tập, tập I Phủ biên tạp lục. Bảndịch của Viện Sử học. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 19, tr.
3-Chu Quang Trứ, Mỹ Thuật Huế (Chương III: Điêu khắc và Tranh). Viện Mỹ thuật-Trung tâm BTDTC Đ Huế xuất bản. Huế- 1992, tr.115.
KTS. Đỗ Thanh Mai, Hs. Đoàn Sĩ Lạng
|