Trang Chủ
Giới Thiệu
Thông Báo
Hình Ảnh Sinh Hoạt
ThưTừ & Bài Vở
Hướng Dẫn
Hỏi Đáp Thắc Mắc
Xem Bài Cũ
Huế Xưa và Nay
Di Tích & Phong Cảnh
Phong Tục
Thơ Văn
Ẩm Thực

 

 

Nghề đan đệm ở làng Phò Trạch

Nguyễn Thế

Không riêng gì nghề dệt chiếu đệm của Phò Trạch, nhiều làng nghề truyền thống khác cũng đang bị mai một

Làng Phò Trạch thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một trong những làng quê có lịch sử lâu đời ở Thừa Thiên Huế. Đây là vùng đất mang đậm dấu ấn của thời di dân mở nước cách đây hơn 600 năm. Sách Ô Châu cận lục soạn năm 1553 ghi về làng này thuộc huyện Kim Trà, phủ Triệu Phong. Tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776 đã ghi về làng này như sau: ”Xã Phù Trạch huyên Hương Trà dệt lác làm chiếu tục gọi là chiếu đệm cũng dùng làm buồm, chiếu ấy cũng như chiếu Quảng Lâm xứ Kinh Bắc”(1). Sách Lịch Triều hiến chương loại chí của Phạm Huy Chú cũng ghi tương tự như vậy. Cho đến nay, nghề đan chiếu đệm truyền thống ở đây vẫn phát triển nhưng không còn hưng thịnh như ngày xưa.

Có lẽ trên bước đường di dân vào Nam, người dân Phò Trạch đã mang theo nghề đan đệm, nguyên liệu để đan nên những chiếc chiếu đệm, những cánh buồm chính là cây bàng, cây cói...những cây này sống chủ yếu ở các vùng ven biển hay đầm phá. Cây bàng mà người dân làng Phò Trạch sử dụng ngày nay có nguồn gốc từ các trằm nước ở quanh vùng, chúng mọc tự nhiên trên những thảm thực vật nổi trên trằm nước mà người dân ở đây gọi là “dời”. Những trằm nước với những thảm dời bao la nằm giữa vùng “động” cát là kết quả còn lại của thời kỳ biển tiến đã vùi lấp những cánh rừng đại ngàn để rồi ngày nay chúng biến thành lớp trầm tích dày đặc dưới lớp cát, đó chính là nguồn than bùn với trữ lượng lớn mà người dân ở đây gọi là lớp “đất kè”. Hiện nay người dân một số nơi quanh vùng đang khai thác lớp đất này để làm phân bón và chất đốt. Nhà máy vi sinh Sông Hương cũng đang khai thác nguồn than bùn ở đây để chế biến thành phân vi sinh bón cho các loại cây trồng cho hiệu quả tốt. Chính vì nhờ nguồn phân bón tự nhiên ở lớp thảm thực vật nổi trên mặt nước mà cây bàng ở đây phát triển khá tốt. Có lẽ về sau do nhu cầu nguyên liệu ngày càng nhiều nên người dân ở đây đã di thực giống cây bàng từ trằm nước về trồng tại các chân ruộng trũng và bắt đầu thâm canh cây bàng để phục vụ cho nghề đan đệm bàng ngày càng phát triển. Khi mà khoa học công nghệ chưa phát triển, chưa tạo ra những vật liệu mới để đáp ứng cho nhu cầu của con người, thì các nghề tiểu thủ công nghiệp luôn phát huy thế mạnh của mình để đáp ứng cho nhu cầu của xã hội. Nghề đan đệm bàng của làng Phò Trạch đã từng tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của người dân quanh vùng. Ngoài việc sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nghề biển như buồm, bao đựng muối... thì chiếu đệm là sản phẩm được tiêu thụ nhiều nhất ở quanh vùng. Chiếu đệm không những dùng để trải nằm, mà ngày xưa nó còn dùng làm chăn đắp rất ấm. Đặc điểm của chiếu đệm hay các vật dụng làm bằng sợi bàng như bao, bị (bao nhỏ), chẹ (trải nôi cho trẻ con nằm)... đều có khả năng hút ẩm rất tốt, vì vậy người ta thường dùng bao, bị đệm để đóng gói các mặt hàng dược liệu hay một số hàng hóa có thể ẩm mốc khi vận chuyển đi xa. Vì vậy vào những năm 80, nhiều sản phẩm đệm bàng của Phò Trạch đã được ngành ngoại thương thu mua để bao gói các loại hàng xuất khẩu. Ngày nay, tuy các sản phẩm làm từ cây bàng của làng Phò Trạch không còn tiêu thụ mạnh như trước nhưng người dân quanh vùng vẫn còn có nhu cầu, vì vậy người dân Phò Trạch vẫn tiếp tục duy trì nghề truyền thống này, và xem đây là một nghề phụ tạo thêm thu nhập trong những lúc nông nhàn.

 Đối với nghề đan đệm ở Phò Trạch thì cây bàng là nguyên liệu chủ yếu thường được nhân dân trồng, hoặc khai thác từ nguồn cây bàng mọc tự nhiên ở các trằm nước, đặc biệt là các trằm nước ở làng Mỹ Xuyên xã Phong Hòa là nơi có nhiều nguyên liệu này. Thường những lúc nông nhàn, bà con ở Phò Trạch đến khai thác, hoặc người dân gần đó cắt (tiếng địa phương thường gọi là bứt), phơi khô và mang về bán lại cho dân làng Phò Trạch. Tuy vậy, để khai thác được nguồn nguyên liệu tự nhiên này là cả một quá trình lao động gian lao vất vã, người dân phải thức dậy từ sớm, mang theo cơm trưa đi bộ 4, 5 cây số mới đến được các trằm nước có nhiều bàng. Song lớp thảm thực vật có cây bàng mọc thường nằm xa bờ, nên có khi phải bơi ra những bải xa hằng năm, bảy chục mét mới đến nơi. Các bải bàng thường nằm nổi trên lớp “dời” nên có lúc người đi khai thác bàng bị ngập lún không ngoi lên được, nếu không có người hổ trợ kịp thời có khi lại bị mất mạng, vì vậy bao giờ cũng phải rủ nhau 5, 7 người mới dám đi “bứt” bàng. Thông thường nguồn nguyên liệu chủ yếu là cây bàng trồng, song nguồn bàng khai thác tự nhiên lại có nhiều ưu điểm hơn về chất lượng, loại bàng khai thác tự nhiên thường trắng và “cân” hơn, tức là cây bàng thon đều nhau. Các sản phẩm đan bằng thứ nguyên liệu tự nhiên này bao giờ cũng được thị trường ưa chuộng hơn vì nó có màu xám trắng, đẹp và có độ bền chắc hơn loại bàng trồng.

 Cây bàng khi thu hoạch thường không được đồng đều, có cây cao, cây thấp vì vậy trước khi mang đi đập, người ta phải tuyển chọn ra nhiều loại bàng có kích thước giống nhau để thuận tiện cho việc đan sản phẩm. Khi tuyển chọn kích thước người ta dựng đứng bó bàng rồi tiến hành rút lên từng nhúm nhỏ (động tác này được gọi là “tót”, một cách đọc cổ của chữ rút) theo thứ tự từ cao xuống thấp rồi bó riêng từng bó nhỏ. Ở Phò Trạch, người dân vẫn còn dùng một số phương ngữ cổ để gọi tên bó bàng theo các cấp độ lớn nhỏ như sau: 

 

Dắm: một nắm bàng nhỏ vừa cầm ở nắm tay.

Neo: một bó bàng vừa, người ta thường kẹp được bên hông để mang đi giả.

 Nối: Một bó bàng to vừa, có thể nối dược trên đầu mà đi.

Sau khi cây bàng được tuyển chọn theo từng kích thước phù hợp với các khổ rộng hẹp của từng sản phẩm dự định sản xuất, thì người ta đưa từng  neo, từng nối bàng ra cối đập cho sợi bàn dẹp và mềm mới đan được. Cối giả (đập) bàng thường được xây dựng ở các thôn xóm, các tụ điểm dân cư đông đúc trong làng. Cối giả được kết cấu bằng một cây gỗ tròn (loại tốt) dài chừng 5 mét, phía ngọn được vạt bằng từ 1 - 1,2 m tạo mặt phẳng cho người ta đặt chân lên để đạp, phía dưới phần chân đạp là một hố đất sâu khoảng 60 cm, rộng từ 50 - 60 cm. Hết khoảng đặt chân đạp, người ta làm một chốt ngang bằng gỗ tốt, hoặc bằng sắt đặt tựa vào lỗ họng của hai trụ đứng cao khoảng 1 mét không kể phần chân trụ chôn trong đất, phía trên hai trụ này được kết nối bằng một thanh ngang bằng gỗ hoặc tre, ở vị trí người đứng đạp cũng có dựng thêm hai trụ nhỏ hơn, có một thanh tre xỏ ngang qua, đây chính là nơi người đạp nắm tay cho vững và tạo điểm tựa khi đạp. Điểm đập của cối chính là phía đầu phần gốc cây, và phía dưới là một tảng đá có mặt phẳng rộng. Khi đập, bó hoặc neo bàng được người cầm bàng điều khiển và đưa vào điểm đập của cối giả một cách tài tình để làm sao bàng được mềm đều từ gốc đến ngọn, còn những người đứng đạp cối thì cứ liên tục đạp xuống cho cần gỗ ngóc lên và đập xuống điểm đập chứ không cần để ý đến người cầm bàng. Vì vậy, người cầm bàng phải là người có kinh nghiệm và xử lý thật nhanh các thao tác như xoay, lật, trở xuôi trở ngược bó bàng... Thông thường khi đập bàng phải cần người mạnh khỏe, hoặc nhiều người cùng đạp thì mới được, nên người ta thường rủ nhau 4-5 người hoặc vài gia đình cùng đi. Đây chính là công đoạn mang tính cộng đồng và tương trợ lẫn nhau trong hoạt động làng nghề, một người neo đơn hay tuổi già sức yếu đều có thể mang bó bàng của mình đến cối giả, không kể yếu hay khỏe cứ mỗi người đóng góp một chân trên cối bàng thì ai cũng có một bó bàng mềm để mang về làm nên sản phẩm giải quyết đời sống hằng ngày cho gia đình.

Những năm trước đây, khi nghề đan đệm còn hưng thịnh, chính quyền địa phương đã mời các nhà khoa học đến nghiên cứu và chế tạo máy cán cây bàng để đỡ sức người lao động và nhanh chóng có nguyên liệu (bàng mềm) phục vụ kịp thời cho người đan. Song kể từ khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, mặt hàng bao bì đệm bàng xuất khẩu không còn thị trường tiêu thụ thì làng nghề đan đệm bàng của Phò Trạch cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Đến nay, các mặt hàng làm ra chủ yếu tiêu thụ ở nội địa nhưng lại rất ít, hơn nửa một số mặt hàng phục vụ cho nhu cầu người dân trước đây đã bị thay thế bởi những sản phẩm của nguyên liệu mới và công nghệ mới nên hàng của Phò Trạch sản xuất ra không còn được thị trường ưa chuộng.

Ngày xưa, lao động tham gia nghề đan đệm còn có cả đàn ông, nhưng sau này chủ yếu là nữ giới, con gái ở làng Phò Trạch khoảng 6, 7 tuổi là đã bắt đầu tập làm quen với nghề đan đệm cho đến khi tuổi già sức yếu không còn đan được mới thôi. Bước đầu học nghề đan, các em nhỏ phải qua một thời gian học “gầy”, tức là lấy một “dắm” bàng rồi tập đan, gài, bẻ gập, rút sợi bàng cho cân cái, thành hình dáng mới chính thức đan sản phẩm. Ban đầu các em được chị hoặc mẹ cho gầy, đan những chiếc chẹ thưa nhỏ lót nôi cho trẻ con nằm, khi đan thành chiếc chẹ, các em lại học “bấc” tức là kết những đường tua hai bên chiếc chẹ, đệm hay trên vành miệng bao bị. Đường “bấc” cũng có hai loại: “Bấc tua bao”, tức là bấc đơn, dễ làm nhưng không đẹp. “Bấc tua múi”, tức là bấc kép, đường bấc này trông rất đẹp nhưng lại khó làm, những người đan lâu năm mới thành thạo, họ chỉ áp dụng đường bấc này đối với mặt hàng đệm “đặt” tức là chủ hàng phải hợp đồng trước qui cách, ví dụ như đan bằng loại bàng cân (thon nhỏ), có chừa hoa văn, bỏ chữ v.v...

Trước kia sản phẩm của làng nghề đan đệm hầu như có mặt khắp nơi do nhu cầu làm đệm nằm, chăn đắp, bao bì đựng các mặt hàng nông lâm hải sản như: lúa, ngô, khoai, sắn, dược liệu, cá, muối... làm buồm cho tàu thuyền đi biển, mũ, cặp (bị đệm) đựng sách vở cho học sinh... Vì vậy ngày xưa nghề đan đệm bàng của Phò Trạch rất phát triển, hầu như nhà nào cũng theo nghề đan đệm nhất là vào thời điểm nông nhàn thì từ đầu làng cho đến cuối làng nơi đâu cũng nghe tiếng giả bàng rộn rã. Thông thường hễ bất cứ lúc nào rỗi rãi là họ lại rủ nhau năm bảy chị em họp lại vừa đan, vừa chuyện trò sôi nổi hoặc hò hát cho thêm vui tay, những lúc như thế này ta mới thấy được tài nghệ của những người thợ thủ công của làng nghề truyền thống Phò Trạch, họ có thể vừa nói chuyện, hò hát, vừa đan thoăn thoắt cả hai tay, mắt không cần nhìn mà không hề bị lỗi đường đan nào cả. Một số tay nghề giỏi trong làng còn đan những chiếc đệm có cả hoa văn, lồng chữ trông rất đẹp mắt. Bởi vậy, ngày xưa khi con trai làng Phò Trạch sang các làng khác giao lưu hò hát thì con gái các làng thường hò câu: ”Lên làng thì muốn lên làng/sợ một mai kia đan đệm, đạp bàng không xong”... Ngày nay, khi nhu cầu của mặt hàng này trên thị trường ngày càng giảm sút, nghề đan đệm bàng không còn là nguồn thu nhập chính của nhân dân, thì một số lớn diện tích trồng cây bàng ở nơi đây lại được chuyển qua trồng lúa, cả làng chỉ còn lại khoảng hơn 7 ha cây bàng, nên nghề đan đệm bàng ở Phò Trạch đang đứng trước nguy cơ bị mai một. Những năm qua, chính quyền địa phương đang có những cố gắng để bảo tồn làng nghề bằng cách cho một số bà con đi tham quan học hỏi ở các làng nghề đan ở Nam bộ để phát triển một số mặt hàng mới có sự tham gia của khoa học công nghệ ở một số công đoạn tẩy nhuộm nguyên liệu, sáng tạo những mẫu hàng lưu niệm có thể phục vụ được cho thị trường tiêu dùng trong vùng và khách tham quan du lịch. Nhưng xem ra vấn đề khả thi vẫn đang là một bài tính khó, vì kèm theo việc áp dụng công nghệ vào mặt hàng tiểu thủ công nghiệp cũng cần phải có vốn đầu tư, đồng thời phải tính đến hiệu quả kinh tế, đặc biệt là đầu ra của sản phẩm hàng hóa có thực sự mang lại thu nhập đảm bảo cho cuộc sống người lao động tiểu thủ công nghiệp hiện nay hay không.  

Việc bảo tồn và phát triển một làng nghề có truyền thống từ lâu đời như làng nghề đệm bàng Phò Trạch đang là vấn đề đáng quan tâm, vì sự mai một của nó không chỉ là sự biến mất những sản phẩm thủ công bé nhỏ mà điều đáng quan tâm là sẽ mất đi cái không gian và tinh thần cuộc sống của làng nghề mà các thế hệ tiền nhân đã ra công gây dựng. Và điều chắc chắn rằng những yếu tố nhân văn của làng nghề như sinh hoạt lễ hội, sinh hoạt văn nghệ dân gian cũng theo đó mà biến mất. Và cũng không bao giờ còn cái cảm giác: “Tiếng ai giả bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi” như lời một bài hát. Đặc biệt là sẽ mất đi tính cố kết cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái đã hình thành bên cối giả bàng tự bao đời.

 

 

 

Minh Mạng - Vị Hoàng Đế của cây lúa
Sông đào Việt Nam dưới thời Nguyễn
Mưa Huế
Nhà vườn ngày ấy và bây giờ
Xích Lô Huế
Cách đặt tên đệm của Vua Chúa Nguyễn

 

 

  nhohue.net © copyrights 2004
Webmaster: An D. Le